News

Hồi ức về Bà Hiệu trưởng trường Trưng Vương (1954 -1963)

Tóm tắt: Hồi ức về Bà Hiệu trưởng trường Trưng Vương (1954 -1963)

Tôi nhớ, khoảng năm 1965 bà thành lập Tổ Phụ nữ trí thức Hà Nội phần lớn là các bạn học cũ như bà giáo Mão (phu nhân cụ Phan Kế Toại), bà Đào Thị Bích Lẫm (Giáo viên trường Saint Mary), bà Diếc (phu nhân GS Nguyễn Đình Quang), bà giáo Sáng (Trường Hàng Cót), bà Minh Hồ, phu nhân cụ Trịnh Văn Bô, bà giáo N, bà phu nhân KTS Nguyễn Cao Luyện, bà Nguyễn Khoa Diệu Hồng…Toàn những người nổi tiếng đương thời.

Hàng tháng các bà sinh hoạt luân phiên ở nhà bè bạn. Mỗi lần đến nhà nhau các bà gọi: Lẫm ơi, Yến ơi, Mão ơi…rồi “Đuổi” con cháu ra khỏi phòng, đóng cửa lại hàn huyên tri kỷ “mày tao” hồn nhiên vui vẻ. Tôi là con rể bà Lẫm, thấy các bà hồn hậu, tôi vờ lảng vảng đi lại để tiếp nước, tò mò nghe chuyện xưa nay, thấy lạ nên ghi nhớ, xin kể lại đôi điều.

Chuyện cũ: Các bà hồi tưởng ngày ấy nhiều bà là tiểu thư khuê các, lại học trường Cao đẳng, đi học bằng xe tay của nhà (Xe có người kéo càng ở trước), có những chàng si tình nhưng không biết cách nào thổ lộ, đợi khi xe đi khỏi nhà một quãng, họ mới đạp xe theo, cố vượt ngang qua rồi dúi thư tỏ tình vào thùng xe, không có ai dám táo tợn đến nhà để thổ lộ. Có bà thấy thế, sợ chẳng may đến tay cha mẹ, liền cầm lấy phong thư vứt trả xuống đường, có bà mang thư ấy đến trường túm tụm cùng bạn bè xem rồi cười thoả thích vô tư.

Bà Mão khi còn là sinh viên, hồn nhiên mang bánh kẹo ăn hỏi của ông Phan Kế Toại đến trường, xin phép Giám học để chiêu đãi bạn và giáo viên. Mấy bà giáo người Pháp rất thích thú về tục ăn hỏi của ta, đòi thêm một phần về cho gia đình, nhưng hết nên phải khất hôm sau, họ hết lời đánh giá tốt đẹp về phong tục cưới xin của người Việt nam và xin lỗi vì người Pháp trước kia gọi dân ta là Annamites (Dân bán khai)...

Chuyện mới: Bà N than thở ông bà chỉ có một con trai là Kỹ sư xây dựng ở công trường, lớ ngớ bùa mê thuốc lú thế nào rước ngay một cô công nhân về làm vợ. Cô này về làm “Giặc cái” trong nhà đặt ra luật lệ quái đản: hàng tháng cả gia đình 4 người đều phải làm kiểm điểm về sinh hoạt. Cô phê phán bố mẹ chồng cái lối ở đâu tiếp bạn lại nói với nhau bằng tiếng Tây, xem truyện cũng chữ Tây, bàn chuyện ngày nảo ngày nào đi học trường của đế quốc sài lang nên bị ảnh hưởng, nói năng mất lâp trường. Ông bà chỉ còn nước cắn răng: Nghiệp chướng!

Rồi chuyện bà Yến: bà đề nghị trường Trưng Vương là trường cho nữ nên phải dạy Nữ công gia chánh để sau nay họ gánh vác thiên chức gia đình. Bà Ng. Ch. Ch là người khu học xá Trung quốc về rất Mao ít, chuyên nông hồng thắm, tuy chỉ là hiệu phó nhưng đầy quyền lực, mang lý sự: bây giờ là lúc giải phóng Phụ nữ, cho nên không thể mang đường lối giáo dục thời Phong kiến đế quốc để ràng buộc họ.

Bà Yến là dân trí thức, bà thấm nhuần câu thơ Ngụ ngôn Pháp “Chân lý thuộc về kẻ mạnh”, không những thế bà còn vươn tới tầm cao của bậc trí giả phương Đông, biết thế nào là “Tri chỉ” (Biết dừng đúng lúc). Bà chào thua lui về “ở ẩn” ở ngôi biệt thự của vợ chồng bà tại 70 Nguyễn Du. 40 năm trong ngành Giáo dục lại là một phụ nữ, họ hàng nội ngoại đều là bậc trí giả, bà hiểu hơn ai hết vai trò của người phụ nữ trong gia đình nên đề xuất dạy nữ công gia chánh nhưng lại bị chụp mũ cho bà là cổ hủ, lạc hậu.

Thật đáng tiếc! Nhân đây tôi xin kể câu chuyện gia đình của một bạn vong niên kém tôi 20 tuổi để minh chứng phần nào cho ý tưởng của bà giáo Yến. Anh là Cục trưởng trong cơ quan một bộ, than thở với tôi: Vợ anh là dân hàng Bạc kinh doanh kiếm tiền tuyệt đỉnh. Anh là con trưởng phải lo cúng giỗ; bố mẹ muốn tự làm cỗ ở cho thành kính, nhưng vợ anh bao giờ cũng gạt phắt, cô yêu cầu cho biết số khách, số mâm và A lê hấp một cú điện thoai là cỗ bàn mang tới ầm ầm.

Đôi lúc anh muốn 2 vợ chồng cùng đi mua bán quần áo, giày mũ cho gia đình, cô lại nói cứ cho biết số đo, màu vải ưa thích là xong khỏi mất thì giờ. Anh nói có một đứa con gái duy nhất nhưng không bao giờ nó theo mẹ, nhớ mẹ, mà chỉ quấn lấy anh vì mẹ nó chỉ suốt ngày lao vào kiếm tiền, thiếu cử chỉ âu yếm vuốt ve, lắng nghe nên con cũng vật vờ như cái bóng.

Anh nói rất thèm có cảnh gia đình cùng đi đâu đó, có giây phút tu chỉnh, đổ mồ hôi sắp xếp lại đồ đạc trong nhà, có chút cáu gắt, có giận hờn bỏ cơm dỗi cháo, có nhiều bữa ăn tự náu nướng hít hà mùi vị thèm thuồng. Anh nói tiền bạc dư dả nhưng thiếu hơi ấm gia đình thiếu bàn tay người vợ, cho nên cảm thấy hạnh phúc nhiều lúc mong manh, vợ anh thiếu hẳn thiên chức người vợ. (Xin lỗi, mọi thứ đều đã qua rồi)

Trở lại chuyện bà giáo, hàng năm đến tết Nguyên đán, hình như một nhóm học trò cũ của bà đã có quy ước: Cứ chiều 30 họ lại đến mang theo các thanh Trầm hương xếp vào chiếc lư đồng nhỏ như nắm tay, đặt một cành đào Phai vào chiếc bình cổ men Tuý hồng, để mẹ Yến chuẩn bị khai Xuân. Ngày mùng Một, mẹ vợ tôi (Bà giáo Lẫm) thường bảo tôi mang quà đến bà Yến, chỉ là chút mứt Hồng bì, bánh Quế tự làm, nhờ thế mà tôi có nhiều dịp được tiếp xúc, trò chuyện, được chiêm ngưỡng vẻ quý phái của bà.

Bà coi tôi như con cháu, nhưng vẫn có hàm ý như tiếp một người khách. Ngày Tết bà ở nhà mặc áo dài nhung màu huyết dụ, cổ quàng khăn nhung màu ngọc bích, thanh thản ngồi cắm hoa, tỉa lá, tỉa cành trên quả Bưởi… Bà ở trên gác hai có ô cửa rất to hướng thẳng ra hồ Thiền Quang, gió đung đưa thổi làm các cành nhãn xoà vào ô cửa chập chờn in bóng lá loang lổ trên tường có treo nhiều đĩa cổ to, nhỏ men lam, men rạn, men chảy… thuộc các triều đại Minh, Thanh.

Tôi chỉ vào một bức trướng hỏi: Bác ơi bức trướng kia là thế nào? Bà bảo: À đó là bức trướng vua Khải Định ban thưởng cho gia đình chồng bác vì ăn ở thuận hoà. Tôi lại chỉ vào 2 ảnh đặt trong khung bằng Đồng đã tối màu, bà bảo: Đó là ảnh vợ chồng bác khi sống ở Paris, còn ảnh kia là chụp với bạn ở Huế trước khi bác ra Hà nội.

Tôi nhìn chiếc tủ con trạm thủng cánh cửa các hoa văn Cúc Giây, Chùm nho con Sóc thấy có một chiếc bát và một đôi Hài Xanh đính Cườm thêu chỉ Kim tuyến. Chiếc Bát thì tôi biết, đó là đồ Ngự dụng triều Thanh rất quý hiếm, men Bạch ngọc trong suốt mỏng như tờ bìa. Nếu rót nước vào, trên thành bát sẽ xuất hiện các hình vẽ lá hoa màu sắc đẹp long lanh.

Tôi hỏi bà về đôi Hài, bà bảo: Đó là quà của ông Khuê đặt riêng để bà đi trong lễ cưới. Tôi nhắm mắt để hình dung ngày xa xưa ấy, thấy được vẻ đẹp lãng mạn Cung Đình của đôi vợ chồng trẻ Tây học. Trong căn phòng nhỏ ấm nồng hơi Xuân, vương vấn hương trầm, toát ra từ phong cách của bà Giáo đến nhiều vật dụng, tất cả đều in dấu trầm tích cổ xưa trăm năm mang hồn quá khứ…

Rồi có một cái tết tôi đến nhà bà, trước đó đã có 2 người khách, bà chỉ vào người đàn ông giới thiệu với tôi: Đây là ông V. Th .N Thứ trưởng bộ X, còn đây vợ ông là học trò bác. Tôi tôn trọng chào: Cháu chào bác, cháu đã nghe tiếng bác từ lâu nhưng hôm nay mới được gặp. Ông ta trả lời: À, tôi thì ai mà chả biết (?)

Tôi sững người về ngôn từ giao tiếp của một ông gọi là Thứ trưởng…!

Hôm nay đã là ngày giáp Tết, trời lạnh. Tôi lững thững ngang qua nơi cũ. Bà Giáo đã mất. Ngôi nhà con cháu đã bán đi, hiện đã bị san bằng. Tôi nhìn vào mảnh đất trống không, ngậm ngùi... mơ hồ sắp đến ngày mùng Một, mường tượng hình ảnh bà giáo Yến mặc áo dài nhung màu huyết dụ ngồi trên căn gác tầng hai bên một chiếc bàn cổ Lư đồng đốt trầm hương, một sắc Đào phai trong lọ men Tuý hồng , một đôi Hài xanh trong ô tủ nhỏ… Ngôi nhà nổi chìm theo kiếp nhân sinh lắng đọng một nỗi niềm tục luỵ, giữ lại cho người khúc điệu bâng khuâng… Mùa xuân, mùa của hồi ức, của những kỷ niệm xa xưa. (Câu chuyện của tôi không có dụng ý nào khác ngoài cảm xúc về bà giáo Nguyễn Thị Yến)

Theo Tamnhin.net.vn

Nghe thêm cùng thể loại